Bản tin Việt Nam tháng 5/2009

Mời các bạn đọc một số thông tin về Việt Nam:

Tòa án lương tri quốc tế

ủng hộ nạn nhân da cam ngày 15 và 16/5/2009 tại Paris

————————

Ngày 2/3/2009, Tòa án Tối cao Hoa Kỳ đã bác đơn kiện của các nạn nhân chất độc da cam Việt Nam khiến dư luận thế giới hết sức bất bình. Để tiếp tục hành trình đòi công lý cho các nạn nhân (ước tính lên tới 3 triệu tại VN),  Hội Luật gia dân chủ quốc tế (AIJD) phối hợp với Hội nạn nhân chất độc da cam Việt Nam (VAVA) quyết định tổ chức « Toà án lương tri quốc tế » trong 2 ngày 15 và 16/5/2009 tại Paris (bắt đầu từ 10h00 ngày 15/5 tại Maison des Mines, 270 rue St Jacques, Paris 5e). Nhiều luật gia nổi tiếng, các chuyên gia, các nhà khoa học từ nhiều nước và các nạn nhân chất độc da cam từ Việt Nam sẽ tham dự phiên tòa này.

Các bạn lưu học sinh và cộng đồng người Việt Nam tại Pháp hãy bày tỏ tình đoàn kết mạnh mẽ của mình với các nạn nhân bằng cách đến tham dự đông đảo phiên tòa này. Đề nghị các bạn hãy tuyên truyền và vận động các bạn bè quốc tế cùng tham dự.

Một số mốc chính trong vụ kiện của các nạn nhân chất độc da cam VN

- Ngày 30/1/2004 : Bên nguyên nộp đơn kiện lên tòa án Liên bang Hoa Kỳ.
- Ngày 10/3/2005 : Tòa sơ thẩm Hoa Kỳ ra phán quyết bác đơn.

- Ngày 30/9/2005 : Nguyên đơn nộp đơn kiện lên Tòa phúc thẩm Hoa Kỳ.

- Ngày 22/2/2008: Tòa phúc thẩm nhất trí với kết luận của Tòa sơ thẩm, bác đơn kiện của các nạn nhân chất độc da cam Việt Nam.

- Ngày 6/10/2008 : Nguyên đơn tiếp tục nộp đơn lên Tòa án Tối cao Hoa Kỳ .

- Ngày 2/3/2009 : Tòa án Tối cao Hoa Kỳ đã bác đơn kiện của nguyên đơn Việt Nam.

 

Website của VAVA: www.vava.org.vn

Tin liên quan đến vấn đề Bô xít

1– Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo triển khai thực hiện Kết luận của Bộ Chính trị Quy hoạch phân vùng thăm dò, khai thác, chế biến, sử dụng bô-xít

 

Ngày 29-4, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng đã có Công văn số: 650/TTg-KTN gửi các bộ: Công thương, Tài nguyên và Môi trường, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Kế hoạch và Ðầu tư, Tài chính, Công an, Giao  thông  vận  tải,Khoa học và Công nghệ, Thông tin và Truyền thông; Ủy ban nhân dân các tỉnh: Ðác Nông, Lâm Ðồng, Gia Lai, Kon Tum, Bình Phước, Bình Thuận, Cao Bằng, Lạng Sơn; Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam (TKV), về việc phát triển ngành công nghiệp khai thác bô-xít, sản xuất a-lu-min. Toàn văn như sau:

 

Thực hiện Kết luận của Bộ Chính trị tại Thông báo số 245 – TB/T.Ư ngày 24-4-2009 về Quy hoạch phân vùng thăm dò, khai thác, chế biến, sử dụng bô-xít giai đoạn 2007-2015, có xét đến 2025 và triển khai một số dự án khai thác bô-xít, sản xuất a-lu-min – nhôm tại khu vực Tây Nguyên, Thủ tướng Chính phủ giao các bộ, ngành và địa phương thực hiện một số nhiệm vụ cụ thể như sau:

 

1. Bộ Công thương:

 

- Rà soát lại quy hoạch bô-xít trên cơ sở cập nhật tình hình và dự báo mới nhất về tác động của cuộc khủng hoảng tài chính – kinh tế toàn cầu và đề xuất điều chỉnh Quy hoạch phân vùng thăm dò, khai thác, chế biến, sử dụng bô-xít giai đoạn 2007-2015, có xét đến năm 2025 và lập Báo cáo Ðánh giá môi trường chiến lược (ÐCM), trình duyệt theo quy định hiện hành.

 

- Chủ trì phối hợp với các bộ, ngành và địa phương liên quan thẩm định thiết kế kỹ thuật hồ bùn đỏ của dự án Tân Rai và Nhân Cơ trên cơ sở trình của TKV, bảo đảm an toàn lâu dài đối với môi trường; – Chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan kiểm tra, tính toán, đánh giá lại hiệu quả dự án a-lu-min Nhân Cơ, báo cáo Thủ tướng Chính phủ;

 

- Phối hợp với Bộ Giao thông vận tải chỉ đạo Tập đoàn TKV lập phương án vận tải sản phẩm đối với các dự án Tân Rai và Nhân Cơ tối ưu nhất để triển khai thực hiện khi dự án đi vào hoạt động.

 

- Phối hợp với Bộ Khoa học và Công nghệ giám sát và đánh giá hiệu quả việc chuyển giao và ứng dụng công nghệ đối với các dự án nêu trên;

 

- Phối hợp với Bộ Thông tin và Truyền thông, Ban Tuyên giáo T.Ư đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền chủ trương của Ðảng và Chính phủ về phát triển ngành công nghiệp khai thác, chế biến khoáng sản bô-xít;

 

- Chuẩn bị báo cáo về tình hình thực hiện các dự án khai thác và chế biến bô-xít ra Hội nghị Trung ương tới.

 

2. Bộ Tài nguyên và Môi trường:

 

- Tiếp tục chỉ đạo công tác điều tra cơ bản, thăm dò, xác định trữ lượng tài nguyên bô-xít của cả nước nói chung và khu vực Tây Nguyên nói riêng;

 

- Chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành và địa phương có liên quan thẩm định kế hoạch sử dụng đất; kế hoạch thu hồi đất và giao đất của hai dự án Tân Rai và Nhân Cơ, phù hợp với tiến độ thi công cuốn chiếu và hoàn thổ của dự án này, hạn chế ảnh hưởng đối với hoạt động sản xuất nông, lâm nghiệp của địa phương, bảo vệ môi trường;

 

- Phối hợp với chính quyền địa phương theo dõi, giám sát chặt chẽ việc thực hiện các giải pháp môi trường đối với hai dự án Tân Rai và Nhân Cơ;

 

- Ðề xuất việc tăng cường công tác quản lý nhà nước về môi trường đối với các dự án bô-xít;

 

- Chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành, địa phương tăng cường công tác quản lý khai thác, chế biến khoáng sản bô-xít.

 

3. Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì giám sát và đánh giá kết quả việc chuyển giao và ứng dụng công nghệ đối với hai dự án Tân Rai và Nhân Cơ.

 

4. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn:

 

- Hướng dẫn địa phương và Chủ đầu tư thực hiện việc chuyển mục đích sử dụng đất lâm nghiệp theo quy định để thực hiện dự án khai thác bô-xít;

 

- Kiểm tra, giám sát việc di dân tái định cư theo quy định của pháp luật.

 

5. Bộ Kế hoạch và Ðầu tư: – Bổ sung vào Báo cáo kinh tế-xã hội trình Quốc hội tại kỳ họp tới về việc thực hiện dự án khai thác bô-xít, sản xuất a-lu-min.

 

6. Bộ Công an phối hợp với các địa phương kiểm tra, giám sát Chủ đầu tư (TKV) thực hiện đúng quy định hiện hành về lao động người nước ngoài làm việc tại Việt Nam và bảo đảm an ninh, trật tự trong khu vực.

 

7. Ủy ban nhân dân các tỉnh có hoạt động khoáng sản bô-xít:

 

- Phối hợp với các bộ, chủ đầu tư tăng cường công tác quản lý nhà nước về khai thác, chế biến khoáng sản, bảo vệ môi trường trên địa bàn.

 

- Chủ trì, phối hợp với chủ đầu tư thực hiện tốt công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng, di dân tái định cư, bảo đảm đời sống nơi ở mới tốt hơn nơi ở cũ; đặc biệt quan tâm đến việc bảo tồn và phát triển phong tục, tập quán và giữ gìn bản sắc của đồng bào dân tộc trong quá trình bố trí tái định cư.

 

8. Chủ đầu tư (Tập đoàn TKV):

 

- Triển khai các dự án Tân Rai (Lâm Ðồng) và Nhân Cơ (Ðác Nông) bảo đảm tiến độ, chất lượng và hiệu quả kinh tế-tài chính. Riêng dự án Nhân Cơ chỉ triển khai sau khi đánh giá hiệu quả kinh tế, báo cáo đánh giá tác động môi trường được phê duyệt;

 

- Thực hiện nghiêm túc các quy định về bảo vệ môi trường và phải bảo đảm chất lượng thi công các công trình về xử lý môi trường;

 

- Xây dựng kế hoạch chi tiết thực hiện kế hoạch sử dụng đất, kế hoạch khai thác mỏ, hoàn thổ, khôi phục môi trường theo trình tự cuốn chiếu, bảo đảm tác động tối thiểu đến hoạt động sản xuất nông, lâm nghiệp của địa phương, trình Bộ Tài nguyên và Môi trường thẩm định, trước khi triển khai thực hiện.

 

- Lập phương án vận chuyển a-lu-min khi hai dự án Tân Rai và Ðác Nông đi vào hoạt động, báo cáo Thủ tướng Chính phủ.

 

- Kiểm tra, tính toán lại hiệu quả kinh tế-tài chính trên cơ sở cập nhật các số liệu hiện tại, dự báo và hồ sơ có liên quan để Bộ Công thương thẩm định, báo cáo kết quả Thủ tướng Chính phủ.

 

- Lập thiết kế kỹ thuật hồ thải bùn đỏ, trình Bộ Công thương chủ trì phối hợp với các bộ, ngành liên quan thẩm định trước khi triển khai thực hiện.

 

- Thực hiện tốt công tác di dân tái định cư;

 

- Chú trọng công tác đào tạo đội ngũ cán bộ, công nhân cho dự án trên cơ sở lực lượng lao động tại chỗ là chính.

 

- Chủ động hướng dẫn nhà thầu nước ngoài chấp hành và thực hiện đúng các quy định hiện hành về lao động là người nước ngoài làm việc tại Việt Nam.

 

(nhandan.com.vn ngày 1/5/2009)

 

2 – Khai thác tiềm năng bauxite Tây Nguyên: Áp dụng công nghệ hiện đại, thân thiện môi trường

 

Cả 2 dự án bauxite thí điểm Tân Rai và Nhân Cơ tại Tây Nguyên đều lựa chọn công nghệ Bayer, công nghệ đã được khẳng định hơn 100 năm nay và đang được thế giới áp dụng rộng rãi trong sản xuất alumina.

 

Xét về góc độ công nghệ trong việc khai thác bauxite, sản xuất alumnia tại Tây Nguyên, Thứ trưởng Bộ Công Thương Lê Dương Quang khẳng định, công nghệ được lựa chọn đảm bảo hiện đại, thân thiện với môi trường, phù hợp với điều kiện của nước ta.

PV: Có ý kiến cho rằng kỹ thuật, công nghệ và nhân công khai thác dự án du nhập chủ yếu từ Trung Quốc. Thứ trưởng đánh giá thế nào về ý kiến này?

Thứ trưởng Lê Dương Quang: Dự án này là khai thác quặng bauxite, sản xuất alumina với nhiều gói thầu trong đó có gói thầu EPC (xây dựng, vận hành và chuyển giao hay còn gọi là chìa khóa trao tay) nhà máy sản xuất alumina được đấu thầu quốc tế rộng rãi và kết quả, Công ty Chalieco (Trung Quốc) đã trúng thầu.

Chúng tôi khẳng định, việc đấu thầu này được thực hiện đúng theo quy định, công khai, minh bạch. Trong quá trình thực hiện đấu thầu, Bộ Công Thương thường xuyên chỉ đạo, giám sát, và trong trường hợp cần thiết, chúng tôi báo cáo xin ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ cũng như ý kiến của các Bộ, ngành khác.

Xin nói thêm, đây không phải dự án liên doanh. Đến thời điểm này, chúng ta chưa thỏa thuận bất kỳ một dự án nước ngoài nào hoặc liên doanh nào về khai thác bauxite, sản xuất alumina tại Việt Nam.

Các dự án hiện nay đều do Tập đoàn Than – Khoáng sản Việt Nam (TKV) là chủ đầu tư, đóng góp 100% vốn.

Công ty Chalieco chỉ thực hiện vai trò nhà thầu EPC dự án Nhà máy alumina. Sau khi hoàn thành xây dựng (kèm theo việc đào tạo, chuyển giao công nghệ), họ sẽ bàn giao cho phía Việt Nam tiếp nhận để vận hành Nhà máy alumina.

Chủ đầu tư là Tập đoàn TKV dự kiến sử dụng 100% nhân công khai thác là người Việt Nam, ưu tiên người dân tộc và người địa phương.

Hiện nay, TKV đã cử hơn 700 người đi đào tạo. Chương trình đào tạo sẽ còn tiếp tục bởi mỗi dự án khi đi vào vận hành, khai thác cần 700 – 800 người lao động.

Vì thế, ý kiến cho rằng dự án dự kiến du nhập nhân công khai thác từ Trung Quốc là hoàn toàn không có cơ sở.

Còn trong quá trình thực hiện gói thầu EPC, nhà thầu Trung Quốc đã sử dụng khoảng 600 cán bộ, công nhân kỹ thuật của họ.

Theo kết luận của Bộ Chính trị, đối với 2 dự án Nhân Cơ và Tân Rai là sử dụng lao động trong nước, chỉ sử dụng lao động kỹ thuật nước ngoài khi cần thiết, Bộ Công Thương sẽ chỉ đạo chủ đầu tư làm việc với nhà thầu trên tinh thần sử dụng tối đa lao động tại chỗ.

PV: Có ý kiến lo ngại công nghệ sản xuất alumnia áp dụng cho dự án Nhân Cơ và Tân Rai không phải công nghệ gốc, công nghệ nguồn và công nghệ của nhà thầu EPC Trung Quốc không phù hợp. Xin Thứ trưởng cho biết rõ hơn về công nghệ mà chúng ta lựa chọn?

Thứ trưởng Lê Dương Quang: Trong lĩnh vực sản xuất alumina – nguyên liệu luyện nhôm thì tất cả các nhà sản xuất lớn trên thế giới đều áp dụng công nghệ Bayer, đã được khẳng định qua gần 100 năm nay.

Hiện nay, Mỹ, Úc, Pháp đều áp dụng công nghệ này. Ý kiến cho rằng công nghệ lựa chọn đưa vào Nhân Cơ và Tân Rai không phải công nghệ gốc, công nghệ nguồn là không xác đáng. Chưa kể, suốt bao nhiêu năm qua, công nghệ này đã được cải tiến, nâng cấp, được hoàn thiện hơn.

Cả 2 dự án Nhân Cơ và Tân Rai đều lựa chọn công nghệ Bayer hòa tách bauxite ở nhiệt độ 145 độ C – áp suất 5 atm cho hiệu suất hòa tách đạt 85,5% và hiệu suất thu hồi alumina toàn bộ đạt 83,6%. Quặng bauxite Nhân Cơ và Tân Rai đã được lấy mẫu để thử nghiệm với công nghệ này và cho kết quả tốt.

Bên cạnh đó, về yêu cầu thiết bị đi theo công nghệ, chúng ta cũng đã ban hành đầy đủ các quy định. Trách nhiệm của Bộ Công Thương và các Bộ liên quan là kiểm tra, giám sát chặt chẽ thiết bị, công nghệ mà nhà thầu áp dụng có đảm bảo đúng yêu cầu đặt ra.

PV: Xin Thứ trưởng cho biết lộ trình nội địa hóa công nghệ bauxite và tiến tới công nghệ luyện nhôm?

Thứ trưởng Lê Dương Quang: Luyện nhôm là đích cuối cùng của khai thác bauxite. Hiện nay chúng ta vẫn phải nhập khẩu nhôm và dự báo nhu cầu nhôm của nước ta để phục vụ công nghiệp hóa hiện đại hóa là rất lớn.

Nhu cầu tiêu hao điện cho sản xuất alumina không lớn, bình quân khoảng 200 – 256 kWh/tấn. Nhưng, việc luyện nhôm lại yêu cầu một sản lượng điện rất lớn, khoảng từ 13.500 – 14.000 kWh/tấn nhôm.

Chỉ những nước có tiềm năng dồi dào về nguồn điện giá rẻ như thủy điện mới có thể triển khai điện phân nhôm hiệu quả.

Trong khi đó, chúng ta còn thiếu điện, giá điện công nghiệp bình quân cao và cũng để ưu tiên nguồn điện cho các ngành, dự án khác cấp bách hơn nên trước mắt, chưa thể tiến hành luyện nhôm.

Nhưng trong Quy hoạch phân vùng thăm dò, khai thác, chế biến, sử dụng bauxite giai đoạn 2007-2015, có xét đến 2025 đã tính tới luyện nhôm. Việc đầu tư nhà máy luyện nhôm được dự kiến trên cơ sở đầu tư đồng bộ tổ hợp Nhà máy điện – nhà máy điện phân nhôm vào giai đoạn sau năm 2010. Hiện nay, TKV đang triển khai các công tác chuẩn bị đầu tư cho dự án thủy điện Ðồng Nai 5 để phục vụ cho dự án luyện nhôm.

(chinhphu.vn ngày 1/5/2009)

 

 

Những bước tiến quan trọng sau 2 năm gia nhập WTO

 

Ngày 23/4/2009, Văn phòng Chính phủ, Văn phòng Trung ương Đảng, Văn phòng Quốc hội tổ chức cuộc Hội thảo về đánh giá tác động đối với Việt Nam sau hơn 2 năm gia nhập WTO . Tại cuộc Hội thảo, đồng chí Vũ Khoan, nguyên Bí thư Trung ương Đảng, nguyên Phó Thủ tướng Chính phủ, người đã từng được giao nhiệm vụ chỉ đạo trực tiếp quá trình đàm phán để gia nhập WTO đã có bài phát biểu. Cổng TTĐT Chính phủ xin trích đăng để bạn đọc tham khảo:

 

Nước ta gia nhập WTO mới trên 2 năm. Đó là một thời đoạn quá ngắn, vả lại không giống như Trung Quốc gia nhập WTO khi kinh tế thế giới phục hồi, nước ta gia nhập WTO vào thời điểm kinh tế thế giới đầy xáo động rồi lâm vào cuộc suy thoái trầm trọng nhất kể từ sau Chiến tranh thế giới thứ II nên khó bề đánh giá chuẩn xác. Bên cạnh đó còn phải kể đến nhiều nhân tố khác tác động tới kinh tế nước ta, kể cả sự yếu kém vốn có từ lâu của nền kinh tế và những cam kết quốc tế khác… nên càng khó bóc tách rạch ròi. Do vậy mọi sự đánh giá chỉ mang tính tương đối.

 

Để đánh giá có thể dựa trên 4 căn cứ khác nhau: (i) theo những cơ hội và thách thức chúng ta đã dự báo; (ii) theo những quan điểm chỉ đạo đã được đề ra; (iii) theo những cam kết ta đã nhận và (iv) theo những chủ trương, chính sách lớn được Đảng và Chính phủ nêu lên. Vì đây là cuộc hội thảo của các Văn phòng ở TW cho nên, có lẽ nên lấy căn cứ (iv) thì hợp lý hơn.

Thực hiện cơ bản Nghị quyết của Đảng và Chương trình hành động của Chính phủ

Sau khi nước ta gia nhập WTO, Hội nghị TW 4 khoá X họp tháng Giêng 2007 đã ra Nghị quyết “về một số chủ trương, chính sách lớn để nền kinh tế phát triển nhanh và bền vững khi Việt Nam là thành viên WTO”, trong đó nêu ra 10 chủ trương, chính sách lớn. Tiếp đó, Chính phủ đã thông qua Chương trình hành động để thực hiện. Nay ta thử nhìn lại xem đã làm được gì, điều gì chưa làm được theo những chủ trương, chính sách ấy ở những nội dung liên quan trực tiếp tới việc gia nhập WTO.

1. Về chủ trương “Tăng cường công tác tư tưởng, nâng cao nhận thức của toàn Đảng, toàn dân” nay đã đạt được sự đồng thuận rộng rãi về nhu cầu hội nhập kinh tế quốc tế; đã có sự hiểu biết nhất định về “luật chơi” và ở chừng mực nào đó đã thích ứng với chúng.

Tuy nhiên, về mặt này cũng còn tồn tại một số vấn đề. Lúc đầu đã nẩy sinh tâm tư kỳ vọng quá lớn; không ít người cứ tưởng gia nhập WTO sẽ phồn vinh ngay; trái lại khi gặp khó khăn do giá cả thế giới tăng cao và nhất là khi nổ ra cuộc khủng hoảng toàn cầu lại nẩy sinh tâm tư cho rằng, mọi khó khăn đều do gia nhập WTO. Nói một cách khác chưa thật quán triệt nhận thức rằng, gia nhập WTO chỉ là một phương tiện, nội lực mới có ý nghĩa quyết định.      

Bên cạnh đó nhiều người, kể cả những người liên quan trực tiếp chưa hiểu thật sâu những cam kết khi gia nhập WTO. Đặc biệt là chưa phát huy cao độ tinh thần chủ động sáng tạo để biến cơ hội thành hiện thực; nhiều chương trình hành động mang tính hình thức, chưa được quan tâm thực hiện; chưa biết tận dụng những công cụ WTO cho phép để bảo vệ lợi ích của mình như các tiêu chuẩn kỹ thuật, chống bán phá giá, độc quyền…

2. Về chủ trương “khẩn trương bổ sung, hoàn thiện hệ thống pháp luật và thể chế” đã nêu ra 4 nhiệm vụ cụ thể; trong đó đã và chưa đạt được những mặt sau:

(i) chưa bao giờ việc bổ sung, hoàn thiện hệ thống pháp luật lại được tiến hành với cường độ cao như vừa qua; về đại thể những điều bổ sung, hoàn thiện đều phù hợp với những cam kết khi gia nhập và được thực hiện nghiêm chỉnh, chưa một đối tác nào chê trách.

Mặt khác vẫn tồn tại những căn bệnh cố hữu là các văn bản dưới luật chậm được ban hành; nhiều quy định trùng chéo, mâu thuẫn nhau; sự hiểu biết pháp luật chưa sâu và việc thực thi pháp luật chưa tốt.

(ii) về nhiệm vụ “hình thành nhanh và đồng bộ các yếu tố của kinh tế thị trường” thì cho đến nay đã hình thành về cơ bản thị trường hàng hoá, thị trường dịch vụ, thị trường tài chính-tiền tệ, thị trường bất động sản, thị trường lao động, thị trường khoa học-công nghệ. Chúng ta đã mở cửa từng bước cho các đối tác nước ngoài đúng với cam kết.

Tuy nhiên, thị trường dịch vụ chưa phát triển đúng mức; thị trường chứng khoán giảm mạnh và nay phản ánh đúng hơn thực trạng kinh tế; thị trường tài chính-ngân hàng có khó khăn nhất định nhưng không bị đổ vỡ như ở nhiều nước khác; thị trường bất động sản trì trệ kéo dài, vấn đề đất đai vẫn còn phức tạp gây trở ngại cho phát triển kinh tế, kể cả đối với nhà đầu tư nước ngoài; thị trường khoa học-công nghệ chưa phát huy tác dụng cần có; thị trường lao động gặp khó khăn do sản xuất giảm sút.

Về cơ chế giá, vừa qua đã có bước tiến mới là áp dụng cơ chế giá thị trường đối với xăng dầu và điện. Nhiều cơ chế trợ cấp đã được dỡ bỏ, tuy nhiên cần đề phòng sự trở lại của cơ chế bao cấp, xin-cho nhân các biện pháp hỗ trợ của Chính phủ trước sự suy giảm kinh tế.

Công cụ thuế ngày càng được hoàn thiện cho dù thủ tục còn nhiều rắc rối; thất thu còn lớn; do kinh tế suy giảm, thu ngân sách giảm thiểu, chi hỗ trợ lớn, bội chi ngân sách tăng cao, do đó cần đề phòng lạm phát quay trở lại.

Nhiệm vụ “nâng cao hiệu quả đầu tư” chưa đạt, hệ số ICOR ngày càng cao: 2001-2005 là 4,89; 2006 là 5; 2007 là 5,4 và 2008 là 6,8, năm nay theo kế hoạch là 6,1.

Về sự điều hành của Nhà nước trên tầm vĩ mô thì sau khi gia nhập WTO, ta chủ trương tăng tốc phát triển. Khi vốn nước ngoài vào nhiều, có phần làm tăng phát hành tiền, tín dụng, đầu tư, nhập khẩu, bội chi ngân sách đưa tới lạm phát cao; để kiềm chế lạm phát ta đã phải thắt chặt tiền tệ, ở mặt nào đó đã gây khó khăn cho sản xuất, nhất là vào lúc kinh tế thế giới suy giảm, làm cho sản xuất giảm thiểu, nhiều người mất việc làm. Rõ ràng, sau khi gia nhập WTO, sự điều hành nền kinh tế thị trường lại hội nhập đầy đủ với kinh tế thế giới là một vấn đề mới mẻ và phức tạp, cần thích nghi dần.

3. Về nhiệm vụ “đẩy nhanh cải cách hành chính, nâng cao hiệu quả, hiệu lực quản lý Nhà nước” tuy đã làm được thêm một số việc, nhất là việc xếp sắp lại bộ máy hành pháp và giảm thiểu thủ tục, song vẫn tồn tại nhiều bất cập, trong đó đáng chú ý là việc thực hiện chủ trương “đẩy mạnh phân cấp gắn với tăng cường trách nhiệm và kiểm tra, giám sát” có nhiều vướng mắc do nguồn nhân lực ở các địa phương chưa tương xứng với nhiệm vụ.

4. “Nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, doanh nghiệp và sản phẩm” là nhiệm vụ lớn, lâu dài, trong hơn 2 năm chúng ta chưa thể làm được gì nhiều. Tuy nhiên, cái được là qua quá trình hội nhập càng bộc lộ rõ hơn những yếu kém về mặt này; riêng ở tầm quốc gia nổi lên 3 khâu “thắt nút cổ chai” là kết cấu hạ tầng; chất lượng nguồn nhân lực và thể chế, nhất là thủ tục, đi đôi với nạn tham nhũng chưa bị đẩy lùi, ảnh hưởng tới hiệu quả phát triển của nền kinh tế và thu hút đầu tư nước ngoài.

5. Trong quá trình hội nhập chúng ta luôn quan tâm tới những tác động không thuận đối với nông nghiệp, nông dân như trong Nghị quyết TW 4 đã nêu bật vấn đề này và Hội nghị TW 7 đã thông qua hẳn một nghị quyết riêng về nông nghiệp, nông dân và nông thôn. Tuy nhiên, trong hơn 2 năm qua, xét riêng về góc độ liên quan trực tiếp tới việc gia nhập WTO thì cũng chưa kịp triển khai được nhiều việc, kể cả quyền được sử dụng 10% giá trị sản lượng để hỗ trợ cho nông nghiệp; xuất khẩu nông sản vẫn gia tăng nhưng chủ yếu vẫn ở dạng thô, chất lượng và vệ sinh an toàn sản phẩm chưa có sự cải thiện rõ rệt, toàn diện; đầu tư trực tiếp của nước ngoài vào nông nghiệp vẫn ở mức cực thấp.

6. Do thời gian còn quá ngắn nên khó bóc tách rõ những vấn đề xã hội nào do việc gia nhập WTO gây ra, những vấn đề nào do quá trình phát triển nội tại đưa tới. Tuy nhiên, có thể thấy, do xuất khẩu gia tăng, nhất là đầu tư nước ngoài tăng đột biến, khả năng xuất khẩu lao động được mở rộng, chúng ta đã tạo thêm nhiều công ăn việc làm cho nhân dân.Thị trường chứng khoán và thị trường bất động sản bùng nổ đã góp phần tăng thu nhập của một bộ phận dân cư. Tiếc rằng, tình trạng lạm phát cao và tác động của khủng hoảng toàn cầu đã hạn chế, thậm chí phần nào đã xoá đi những gì gặt hái được, buộc chúng ta phải ứng phó với nạn thất nghiệp và chi tiêu nhiều hơn cho nhiệm vụ an sinh xã hội; công cuộc xoá đói giảm nghèo tuy đạt được nhiều thành tựu, nhưng nay phải đứng trước những thách thức mới; việc thu hẹp khoảng cách ngày càng doãng ra giữa các tầng lớp dân cư và vùng miền tiếp tục mang tính thời sự cao.

7. Không chỉ do gia nhập WTO mà do chính sách mở cửa dưới tác động của xu thế toàn cầu hoá và công nghệ thông tin nói chung, chúng ta đã tiếp thu được không ít thành tựu, tinh hoa văn hoá của nhân loại, tuy về mặt trái của quá trình ấy, sản phẩm văn hoá của các nước có điều kiện xâm nhập sâu rộng, mạnh mẽ vào nước ta, đặt nền văn hoá dân tộc trước nhiều thách thức mới, trong một số lĩnh vực còn có phần bị văn hóa ngoại lấn lướt.

Chúng ta đã làm được không ít việc để giữ gìn, phát huy bản sắc văn hoá dân tộc đi đôi với việc quảng bá văn hoá nước ta ra nước ngoài song nhìn tổng thể nói chung hiệu quả còn chưa được như mong muốn.

8. Vấn đề môi trường ngày càng trở nên bức bách, sau khi nước ta gia nhập WTO một số nhà đầu tư nước ngoài có ý định đưa vào ta những dự án có thể gây ô nhiễm nặng, gây lo ngại sâu sắc trong dư luận xã hội và có thể ảnh hưởng xấu tới tính bền vững trong sự phát triển của nước ta.

 

Khắc phục nhược điểm, đẩy mạnh hội nhập

Tóm lại, trong hơn 2 năm qua, chúng ta đã làm được nhiều việc theo Nghị quyết TW 4 và Chương trình hành động của Chính phủ nhằm bảo đảm việc gia nhập WTO góp phần làm cho nước ta phát triển nhanh và bền vững. Tuy nhiên như trên đã nói, do thời gian quá ngắn, đồng thời lại rơi vào đúng thời điểm kinh tế thế giới khủng hoảng, nhiều vấn đề liên quan tới nhiều nhân tố khách quan và chủ quan khác nên khó có thể đánh giá hết những thành tựu đã đạt được, cũng như những gì chúng ta cần phải phấn đấu, khắc phục.

Mặc dầu vậy có thể hình dung rằng, bên cạnh một số kết quả “hữu hình” rất quan trọng như đầu tư nước ngoài tăng cao, nguồn ngoại tệ vào nhiều, xuất khẩu có bước phát triển mới,…chúng ta đã gặt hái được một số kết quả “vô hình” có ý nghĩa to lớn, trong đó nổi lên 4 việc: có sự đồng thuận cao hơn về nhu cầu hội nhập; luật pháp, thể chế được hoàn thiện hơn, góp phần gia tăng niềm tin của các doanh nghiệp trong và ngoài nước; vị thế quốc tế của nước ta được nâng cao thêm và sau hơn 2 năm hội nhập, chúng ta càng nhận thức được rõ hơn những điểm yếu trong nền kinh tế nước ta.

Việc phát huy những mặt làm được, khắc phục những nhược điểm còn tồn tại cần đặt trong sự gắn kết với 3 quá trình: về ngắn hạn là tiếp tục đối phó với tác động của suy thoái toàn cầu; về trung hạn cần chủ động chuẩn bị cho thời kỳ “hậu khủng hoảng”; về dài hạn là chuẩn bị Chiến lược phát triển kinh tế xã hội 10 năm tới để đưa nước ta lên bước phát triển mới về chất là về cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Đây là những vấn đề lớn cần được bàn thảo tiếp tục./.

(chinhphu.vn ngày 1/5/2009)

 

B¶n tin kinh tÕ

Số 08, Ngày 30/04/2009:  ktth-30-4-09

Gửi trả lời

Bộ gõ AVIM-Reloaded